Chuỗi sản xuất dệt may gồm bốn khâu nối nhau: làm xơ và kéo sợi, dệt sợi thành vải mộc, nhuộm và hoàn tất để vải có màu và tính năng, rồi cắt may thành quần áo. Mỗi khâu là một kiểu xí nghiệp riêng, máy móc riêng, tay nghề riêng; rất ít doanh nghiệp làm trọn cả bốn khâu dưới một mái nhà. Người trong ngành gọi ba khâu đầu là thượng nguồn, khâu may là hạ nguồn.
Hiểu chuỗi này giúp bạn biết mình đang nói chuyện với loại xí nghiệp nào. Một xưởng may không tự làm ra vải; một nhà máy dệt thường không nhuộm; còn nhà máy sợi bán cho nhà dệt chứ hiếm khi bán cho xưởng may. Bài đi lần lượt từng khâu, nói nó làm gì, cần gì và vì sao các khâu hay đứng tách nhau.
Khâu xơ và kéo sợi: biến một đám bông thành sợi chạy được trên máy dệt
Nguyên liệu đầu vào của ngành gồm hai nhóm. Xơ tự nhiên chủ yếu là bông, ngoài ra có lanh, gai, tơ tằm, len. Xơ nhân tạo gồm polyester, nylon và nhóm xơ tái sinh từ cellulose như viscose. Bông phần lớn phải nhập khẩu vì điều kiện trồng bông ở Việt Nam không thuận; polyester đi ra từ ngành hoá dầu dưới dạng hạt nhựa rồi kéo thành sợi filament hoặc cắt thành xơ ngắn.
Một nhà máy kéo sợi bông đi qua chuỗi máy khá dài: máy xé kiện để tơi bông và loại tạp chất, máy chải thô gỡ các xơ thành một dải mỏng gọi là cúi, máy ghép trộn nhiều cúi cho đều, máy chải kỹ loại xơ ngắn nếu cần sợi mịn, máy sợi thô kéo mảnh cúi, rồi máy sợi con kéo và xe thành sợi cuối cùng. Sợi được đánh ống, kiểm độ mảnh, độ bền, độ đều trước khi xuất.
Nhà máy sợi là loại hình nặng vốn, chạy liên tục nhiều ca, cần độ ẩm và nhiệt độ trong xưởng ổn định vì xơ bông nhạy với độ ẩm. Bụi bông là nguy cơ sức khoẻ đặc thù của khâu này, nên hệ thống hút bụi và lọc khí là một phần lớn của nhà xưởng. Sản phẩm bán theo chi số sợi (độ mảnh) và thành phần, ví dụ sợi bông chải kỹ, sợi pha bông polyester, sợi polyester.
Khâu dệt: sợi thành vải mộc bằng hai cách đan khác nhau
Từ sợi, vải được tạo ra theo hai nguyên lý. Dệt thoi đan hai hệ sợi vuông góc nhau: sợi dọc căng sẵn trên máy, sợi ngang được đưa qua lại bằng thoi, kiếm, tia khí hoặc tia nước. Vải dệt thoi đứng dáng, ít co giãn, dùng cho sơ mi, quần âu, kaki, jean. Dệt kim tạo vải bằng cách móc các vòng sợi vào nhau như đan len, cho vải co giãn, dùng cho áo thun, đồ thể thao, đồ lót.
Trước khi dệt thoi, sợi dọc phải qua mắc sợi và hồ sợi, tức là phủ một lớp hồ để sợi chịu được ma sát khi máy chạy nhanh. Lớp hồ này sau đó phải rũ đi ở khâu nhuộm, và đó là một trong những lý do nước thải ngành nhuộm nặng. Dệt kim không cần hồ nhưng cần sợi đều và sạch để không đứt kim.
Vải ra khỏi máy dệt gọi là vải mộc: chưa tẩy, chưa nhuộm, thường còn màu ngà, còn dầu máy và hồ. Một xí nghiệp dệt bán vải mộc theo mét hoặc theo cân cho nhà nhuộm, hoặc nhận sợi của khách để dệt thuê. Vì máy dệt ồn và cần mặt bằng rộng nhưng không cần nhiều nước, xưởng dệt có thể đặt ở nhiều nơi; khâu nhuộm thì khác hẳn, như phần sau sẽ nói.
Nhuộm và hoàn tất: khâu quyết định màu, cảm giác tay và tính năng của vải
Đây là khâu hoá học của chuỗi, nơi vải mộc biến thành vải thương phẩm. Bảng dưới tóm các công đoạn chính theo thứ tự thường gặp ở một xí nghiệp nhuộm vải bông.
| Công đoạn | Làm gì | Điều cần để ý |
|---|---|---|
| Tiền xử lý | Rũ hồ, nấu tẩy, giặt để vải sạch dầu, hồ, tạp chất và trắng đều | Tốn nhiều nước, nhiệt và hoá chất; quyết định màu nhuộm có đều không |
| Nhuộm | Cho thuốc nhuộm bám vào xơ trong máy nhuộm cao áp, máy jigger hoặc nhuộm liên tục | Mỗi loại xơ cần nhóm thuốc nhuộm khác; khớp màu với mẫu là kỹ năng khó |
| In hoa | In lưới, in trục, in chuyển nhiệt hoặc in kỹ thuật số lên vải | Có thể làm ở xưởng in riêng sau khi vải đã nhuộm nền |
| Hoàn tất | Văng sấy định khổ, phòng co, làm mềm, cào lông, chống nhăn hoặc chống thấm | Quyết định khổ vải, độ co sau giặt và cảm giác tay |
| Kiểm vải | Soi lỗi trên bàn đèn, đo khổ, cân trọng lượng, cuộn cây | Lỗi vải phát hiện ở đây rẻ hơn nhiều so với phát hiện ở xưởng may |
Khâu này tiêu tốn nước và năng lượng nhiều nhất chuỗi, đồng thời là nơi phát sinh nước thải có màu, có hoá chất. Vì thế xí nghiệp nhuộm chịu kiểm soát môi trường chặt theo Luật Bảo vệ môi trường 2020 và thường phải đặt ở nơi có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Người đặt vải hay hỏi độ bền màu khi giặt, khi ma sát, khi phơi nắng; các chỉ tiêu này phụ thuộc vào cả thuốc nhuộm lẫn cách hoàn tất.
Khâu may: nơi tập trung đông lao động nhất
May là khâu cuối, biến vải thành sản phẩm. Một xí nghiệp may nhận vải và phụ liệu, làm rập theo thiết kế, giác sơ đồ để cắt tiết kiệm vải, trải vải nhiều lớp và cắt, đánh số bó, rồi đưa lên chuyền may. Sau khi may xong là là ủi, kiểm, gắn thẻ, đóng gói. Đây là khâu dùng nhiều lao động nhất vì phần lớn thao tác vẫn cần tay người điều khiển vải dưới chân vịt máy may.
Khác với khâu sợi và nhuộm, khâu may ít cần nước, ít hoá chất, máy móc rẻ hơn tính theo đầu người, nên dễ mở ở quy mô nhỏ. Từ hộ may gia đình vài máy, xưởng gia công vài chục máy, tới nhà máy có hàng chục chuyền, tất cả cùng tồn tại. Ở Việt Nam, khâu may phát triển mạnh từ sớm nhờ đơn hàng xuất khẩu, trong khi thượng nguồn (sợi, dệt, nhuộm) phát triển chậm hơn, nên nhiều xưởng may vẫn dùng vải nhập.
Với người đọc muốn hiểu ngành, điểm mấu chốt là: phần lớn giá trị và rủi ro chất lượng của chiếc áo đã được định đoạt trước khi tới xưởng may. Vải co, phai màu, lệch khổ thì xưởng may giỏi đến đâu cũng khó cứu. Bài về nhà máy may xuất khẩu trong cùng danh mục đi sâu vào chuyền may.
Khách mua quốc tế hỏi gì về cả chuỗi, không chỉ về xưởng may
Một điểm khác của ngành dệt may xuất khẩu so với nhiều ngành khác là khách mua không chỉ nhìn vào nơi may cuối cùng. Các nhãn hàng lớn ngày càng muốn biết sợi đến từ đâu, vải dệt và nhuộm ở nhà máy nào, hoá chất dùng trong nhuộm có nằm trong danh mục hạn chế hay không. Lý do là trách nhiệm về sản phẩm và về môi trường được tính cho cả chuỗi chứ không chỉ khâu cuối.
Ở mức nguyên lý, có ba nhóm câu hỏi hay gặp. Nhóm thứ nhất là truy xuất nguồn nguyên liệu: hồ sơ mua sợi, mua vải, hoá đơn và chứng từ nối từng lô với nhau. Nhóm thứ hai là quản lý hoá chất: nhà nhuộm dùng thuốc nhuộm và chất trợ nào, có kiểm soát các chất bị hạn chế ở thị trường nhập khẩu hay không, nước thải xử lý ra sao. Nhóm thứ ba là điều kiện lao động ở từng khâu: giờ làm, an toàn, bụi bông, tiếng ồn, hoá chất.
Với xí nghiệp nhỏ, điều này có nghĩa thực tế là phải giữ giấy tờ nguồn vải đầy đủ và chọn nhà cung cấp có khả năng trả lời những câu hỏi tương tự. Một xưởng may làm tốt nhưng không chứng minh được nguồn vải sẽ khó vào được đơn hàng của nhãn hàng có yêu cầu này. Các chương trình chứng nhận cụ thể thay đổi theo thời gian và theo khách; bạn nên hỏi trực tiếp khách mua về yêu cầu hiện hành thay vì đoán trước.
Vì sao các khâu hay tách thành những xí nghiệp riêng
Quy mô kinh tế khác nhau. Nhà máy sợi và nhà máy dệt chỉ có lãi khi chạy liên tục với sản lượng lớn, trong khi xưởng may có thể chạy đơn vài trăm sản phẩm. Ghép chung dễ làm một bên thừa công suất, một bên thiếu.
Yêu cầu hạ tầng khác nhau. Nhuộm cần nước, hơi nóng, nồi hơi và trạm xử lý nước thải; may cần mặt bằng sáng, thoáng và nhiều lao động. Một địa điểm khó đáp ứng tốt cả hai.
Tay nghề và quản trị khác nhau. Kỹ sư nhuộm làm việc với công thức hoá chất và khớp màu; quản đốc may làm việc với cân bằng chuyền và năng suất người. Hai kiểu quản lý này hiếm khi giỏi cùng lúc trong một doanh nghiệp nhỏ.
Khách hàng khác nhau. Nhà sợi bán cho nhà dệt, nhà dệt bán cho nhà nhuộm hoặc thương nhân vải, nhà nhuộm bán cho xưởng may hoặc chợ vải. Mỗi khâu có thị trường riêng, giá riêng.
Ngoại lệ là các tập đoàn dệt may. Một số doanh nghiệp lớn trong nước đầu tư cả sợi, dệt, nhuộm và may để chủ động nguồn vải. Mô hình này giúp kiểm soát chất lượng và thời gian giao hàng, nhưng cần vốn rất lớn và không phổ biến ở doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Người đi tìm nhà cung cấp nên đọc chuỗi này thế nào
Khi bạn cần một sản phẩm dệt may, câu hỏi đầu tiên là mình cần mua ở khâu nào. Muốn đặt áo thành phẩm thì nói chuyện với xí nghiệp may, và hỏi họ lấy vải từ đâu. Muốn có vải đúng màu riêng thì phải làm việc với nhà nhuộm hoặc thương nhân vải có quan hệ với nhà nhuộm. Muốn vải có thành phần đặc biệt, ví dụ sợi tái chế, thì phải lần ngược lên tận nhà sợi.
Câu hỏi thứ hai là nguồn gốc nguyên liệu. Nhiều khách mua nước ngoài và cả quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại đều xét vải và sợi làm ở đâu, không chỉ xét nơi may. Một xí nghiệp may biết rõ vải của mình đi từ nhà dệt nào, nhà nhuộm nào sẽ trả lời được câu hỏi truy xuất; một xưởng chỉ mua vải trôi nổi ở chợ thì khó.
Câu hỏi thứ ba là trách nhiệm khi lỗi. Vải co sau giặt là lỗi của khâu hoàn tất, đường may bung là lỗi của khâu may; nếu bạn mua thành phẩm từ một xưởng may thì xưởng đó phải chịu với bạn, còn họ tự làm việc với nhà vải. Hiểu chuỗi giúp bạn đặt đúng câu hỏi chứ không đổ lỗi sai chỗ.
Câu hỏi thường gặp
Vải mộc là gì và có mua về may được không?
Vải mộc là vải vừa ra khỏi máy dệt, chưa qua tẩy, nhuộm và hoàn tất, thường còn hồ và dầu máy. Có một số sản phẩm dùng vải mộc như túi vải thô, nhưng phần lớn quần áo cần vải đã xử lý để không co rút mạnh, không cứng và lên màu đều.
Thượng nguồn và hạ nguồn trong dệt may khác nhau thế nào?
Thượng nguồn là các khâu làm ra nguyên liệu: xơ, sợi, dệt vải, nhuộm và hoàn tất. Hạ nguồn là khâu may thành sản phẩm và phân phối. Thượng nguồn nặng vốn, cần nhiều máy và hạ tầng; hạ nguồn cần nhiều lao động và linh hoạt theo đơn hàng.
Vì sao nhà máy nhuộm hay bị dân phản đối khi đặt gần khu dân cư?
Vì nhuộm dùng nhiều nước, nhiều hoá chất và thải ra nước có màu, nhiệt độ cao, nếu xử lý không đạt sẽ ảnh hưởng nguồn nước. Ngoài ra còn có nồi hơi và mùi. Do đó các địa phương thường yêu cầu nhuộm đặt trong khu, cụm có hệ thống xử lý nước thải tập trung.
Polyester có phải là vải kém hơn bông không?
Không hẳn. Polyester bền, ít nhăn, nhanh khô và giữ màu tốt, nên được dùng nhiều cho đồ thể thao và đồ bảo hộ. Bông mềm, thấm hút tốt hơn nhưng dễ co và nhăn. Nhiều loại vải là sợi pha giữa hai loại để dung hoà ưu nhược điểm, tuỳ công dụng sản phẩm.
Một xưởng may nhỏ có cần hiểu khâu nhuộm không?
Có, ít nhất ở mức đọc được thông số độ co, độ bền màu và khổ vải mà nhà cung cấp vải đưa ra. Phần lớn lỗi khách phàn nàn như áo co, ra màu, lệch sườn sau giặt bắt nguồn từ vải; xưởng biết hỏi đúng thì tránh được nhiều đơn phải làm lại.
Ngành dệt may Việt Nam mạnh ở khâu nào?
Nói định tính, khâu may phát triển sớm và rộng nhất nhờ đơn hàng xuất khẩu; khâu kéo sợi cũng có nhiều nhà máy. Khâu dệt và nhuộm vải phát triển chậm hơn, nên một phần vải cho xưởng may vẫn phải nhập. Muốn số liệu cụ thể, bạn nên xem báo cáo của hiệp hội ngành và cơ quan thống kê.