Vật liệu xây và ốp lát gồm ba nhánh sản xuất khác hẳn nhau: gạch đất sét nung trong lò tuynel, gạch không nung đóng rắn bằng xi măng hoặc chưng áp hơi nước, và đá ốp lát cưa từ khối đá tự nhiên. Mỗi nhánh có nguyên liệu, máy móc và vấn đề môi trường riêng, và chúng đang thay đổi tỷ trọng cho nhau theo định hướng phát triển vật liệu xây không nung.
Bài này đi qua dây chuyền của từng nhánh, giải thích vì sao lò gạch thủ công đã và đang bị xoá bỏ, và chỉ ra các làng đá nổi tiếng mà người trong nghề đều biết. Góc nhìn là của người muốn hiểu ngành và chọn đúng kiểu xí nghiệp, không phải của người mua vật liệu cho nhà mình.
Dây chuyền gạch đất sét nung lò tuynel
Một xí nghiệp gạch tuynel điển hình làm theo thứ tự sau:
- Khai thác và ủ đất. Đất sét được khai thác, để phong hoá, ủ ẩm cho tơi và đồng đều.
- Phối trộn và nhào. Đất được cấp qua máy cán, máy nhào, có khi trộn thêm than cám vào đất để tận dụng nhiệt khi nung, một cách làm phổ biến ở nhiều lò Việt Nam.
- Đùn ép. Máy đùn có hút chân không ép đất thành dải gạch liên tục qua khuôn tạo lỗ, rồi máy cắt cắt thành viên.
- Phơi, sấy mộc. Gạch mộc được xếp phơi trong nhà kính, dưới mái che hoặc đưa vào hầm sấy tận dụng nhiệt thừa của lò.
- Nung trong lò tuynel. Gạch xếp trên xe goòng đi chậm qua đường hầm dài với vùng sấy, vùng nung, vùng làm nguội. Lò chạy liên tục.
- Phân loại và xuất. Gạch ra lò được phân loại theo màu, độ chín, độ nứt, xếp kiện để bốc lên xe.
Dòng chảy này cho thấy chỗ hay sinh lỗi: đất ủ chưa đều làm gạch nứt khi phơi, phơi chưa đủ khô mà đưa vào lò làm gạch nổ, còn xếp goòng lệch làm gió lò đi không đều và gạch chín không đều giữa các vị trí.
Ngoài lò tuynel còn có lò vòng kiểu Hoffman, nơi lửa di chuyển qua các buồng cố định. Cả hai đều là lò liên tục, sạch và tiết kiệm nhiên liệu hơn hẳn lò thủ công.
Vì sao lò gạch thủ công bị xoá bỏ
Lò gạch thủ công, những lò đứng xây bằng chính gạch mộc, đốt củi hoặc than, từng có mặt khắp đồng bằng. Mỗi mẻ đốt xong là phá lò, gạch chín không đều, tỷ lệ gạch sống và gạch quá lửa cao. Khói thải đi thẳng ra đồng ruộng, ảnh hưởng tới lúa và hoa màu xung quanh, và người dân sống gần lò chịu khói nhiều tuần liền.
Vì vậy chính sách nhiều năm qua là xoá bỏ dần lò thủ công, chuyển sang lò tuynel, lò Hoffman, và khuyến khích vật liệu xây không nung. Lò công nghiệp kiểm soát được nhiệt, tận dụng nhiệt thừa để sấy, có thể lắp hệ thống xử lý khí thải. Lộ trình và yêu cầu cụ thể ở từng địa phương có khác nhau, bạn cần kiểm văn bản hiện hành.
Một vấn đề khác của gạch đất sét nung là lấy đất. Khai thác đất ruộng làm gạch làm mất đất canh tác và hạ thấp mặt ruộng. Đây là một lý do nữa khiến gạch không nung, dùng cát, đá mạt, tro xỉ thay cho đất sét, được ưu tiên phát triển.
Với những chủ lò cũ, chuyển đổi không đơn giản: lò tuynel cần vốn, mặt bằng, nguồn đất ổn định và đủ đầu ra để chạy liên tục. Nhiều cơ sở đã chọn cách góp vốn chung một lò tuynel, chuyển sang làm gạch không nung, hoặc rời ngành. Đây là ví dụ rõ về việc chính sách môi trường định hình lại cả một nhánh xí nghiệp.
Các loại gạch không nung và cách sản xuất
Gạch không nung không đi qua lò nung; chúng đóng rắn nhờ phản ứng của xi măng hoặc vôi, có khi được tăng tốc bằng hơi nước. Ba nhóm phổ biến:
| Loại gạch | Nguyên liệu chính | Cách làm | Đặc điểm |
|---|---|---|---|
| Gạch bê tông cốt liệu (gạch block) | Xi măng, cát, đá mạt, có thể thêm tro xỉ | Trộn, ép rung trong khuôn, bảo dưỡng ẩm | Chắc, nặng, dây chuyền đơn giản, nhiều xí nghiệp vừa và nhỏ |
| Gạch bê tông khí chưng áp | Cát nghiền mịn hoặc tro bay, vôi, xi măng, thạch cao, bột nhôm | Đổ khuôn, bột nhôm tạo bọt khí, cắt khối, chưng áp trong nồi hơi áp suất cao | Nhẹ, cách nhiệt tốt, dây chuyền vốn lớn |
| Gạch bê tông bọt | Xi măng, cát, chất tạo bọt | Đổ khuôn, bảo dưỡng không chưng áp | Nhẹ, đầu tư thấp hơn, chất lượng phụ thuộc kiểm soát |
| Gạch tro xỉ | Tro bay, xỉ nhiệt điện, xi măng hoặc vôi | Ép và bảo dưỡng | Tận dụng phế thải nhiệt điện, phát triển gần nhà máy điện than |
Với xí nghiệp nhỏ, gạch block là cửa vào dễ nhất vì máy ép rung không quá đắt và nguyên liệu có sẵn. Thử thách nằm ở kiểm soát chất lượng: tỷ lệ xi măng, độ ẩm hỗn hợp, thời gian bảo dưỡng. Gạch xuất bãi quá sớm khi chưa đủ cường độ là lỗi phổ biến nhất, gây nứt tường về sau.
Đá ốp lát: từ khối đá ở mỏ đến tấm đá mài bóng
Khai thác khối. Đá granite, đá hoa (marble) được khai thác thành khối lớn ở mỏ bằng cưa dây kim cương, khoan tách, hạn chế nổ mìn để không làm nứt khối.
Xẻ tấm. Khối đá được xẻ thành tấm dày bằng máy cưa dây hoặc cưa nhiều lưỡi. Đây là khâu tốn năng lượng và nước làm mát.
Phân loại khối và tấm. Đá tự nhiên không đồng nhất: cùng một mỏ có khối nhiều vân, khối ít vân, khối có vết nứt chân chim. Xưởng giỏi phân loại ngay từ khối và đánh số tấm theo thứ tự xẻ, để công trình lớn lát được những tấm liền vân, đồng màu.
Mài, đánh bóng, xử lý mặt. Tấm đá được mài phẳng, đánh bóng, hoặc khò lửa, băm, mài mờ để có mặt nhám chống trơn.
Cắt quy cách. Tấm lớn được cắt thành viên lát nền, bậc cầu thang, mặt bàn, theo bản vẽ công trình.
Chế tác mỹ nghệ. Một nhánh riêng: tạc tượng, phù điêu, lan can, đồ trang trí bằng đá, làm thủ công kết hợp máy CNC.
Nước và bùn đá. Mọi khâu cưa, mài đều dùng nước để làm mát và giảm bụi; nước thải chứa bùn đá cần lắng và thu gom, không xả thẳng ra kênh mương.
Một số vùng và làng nghề đá nổi tiếng
Bảng chỉ nêu những nơi người trong nghề biết rõ, ghi theo đơn vị hành chính hiện hành.
| Nơi | Tỉnh hiện nay | Thế mạnh quen thuộc |
|---|---|---|
| Làng đá Non Nước | Đà Nẵng | Đá mỹ nghệ, tượng, đồ trang trí |
| Làng đá Ninh Vân | Ninh Bình | Chạm khắc đá, đá mỹ nghệ, công trình đá |
| Làng đá Nhồi | Thanh Hoá | Chế tác đá, đồ đá dân dụng và mỹ nghệ |
| Vùng chế biến đá granite | Gia Lai (Bình Định cũ) | Xẻ, mài đá granite ốp lát và đá mỹ nghệ |
Ngoài ra, các vùng có mỏ đá hoa, đá granite ở miền núi phía Bắc và miền Trung có nhà máy xẻ, mài đá. Ngành đá còn có nhánh đá nhân tạo gốc thạch anh, đá ép, sản xuất bằng dây chuyền nhà máy chứ không từ khối đá tự nhiên.
Ở các làng đá mỹ nghệ, mô hình sản xuất giống các làng nghề khác: nhiều hộ, mỗi hộ mạnh một dòng sản phẩm, nhận đơn qua cơ sở lớn hơn. Máy CNC đã vào làm phần thô, còn phần tinh như nét mặt tượng, hoa văn mảnh vẫn do thợ đục tay.
Các kiểu xí nghiệp vật liệu xây và nơi chúng thường đặt
Ba nhánh trong bài có cấu trúc xí nghiệp khác nhau. Bảng dưới giúp người tìm nhà cung cấp hoặc người sắp vào làm hình dung mình đang nhìn vào kiểu nào.
| Kiểu xí nghiệp | Quy mô thường gặp | Thường đặt ở đâu | Khách chính |
|---|---|---|---|
| Xí nghiệp gạch tuynel | Vừa, chạy liên tục nhiều ca | Gần nguồn đất sét, ven sông ở đồng bằng và trung du | Đại lý vật liệu, công trình dân dụng quanh vùng |
| Xưởng gạch block, gạch bê tông | Nhỏ đến vừa, dây chuyền ép rung | Gần mỏ đá, bãi cát, gần đô thị | Nhà thầu, hộ xây nhà, công trình hạ tầng nhỏ |
| Nhà máy gạch bê tông khí chưng áp | Vừa đến lớn, vốn nhiều | Gần nguồn cát, tro bay và thị trường đô thị | Nhà thầu công trình cao tầng, nhà xưởng |
| Nhà máy xẻ, mài đá ốp lát | Vừa | Gần mỏ đá hoặc gần cảng nếu dùng đá nhập | Công trình, nhà phân phối, xuất khẩu |
| Hộ, xưởng đá mỹ nghệ | Nhỏ, theo làng nghề | Các làng đá truyền thống | Khách đặt tượng, công trình văn hoá, du khách |
Vì sản phẩm nặng và giá trị trên mỗi tấn không cao, gạch thường chỉ đi trong bán kính vài tỉnh quanh nơi sản xuất. Đá ốp lát và đá mỹ nghệ có giá trị cao hơn nên đi xa hơn, kể cả xuất khẩu. Người tìm nguồn hàng gạch vì vậy nên bắt đầu từ các xí nghiệp gần công trình nhất.
Bụi silic và nước thải: nguy cơ đặc thù của nghề đá và nghề gạch
Cưa, mài, đục đá khô sinh ra bụi chứa silic tinh thể. Hít bụi này lâu năm gây bệnh bụi phổi silic, một bệnh nghề nghiệp không hồi phục. Biện pháp cốt lõi là làm ướt, tức là cấp nước vào mũi cưa, đĩa mài, và hút bụi tại chỗ, kèm khẩu trang lọc bụi phù hợp. Ở xưởng đá nhỏ, máy cắt cầm tay cắt khô là nguồn bụi nguy hiểm nhất.
Ở xưởng gạch, nguy cơ đến từ bụi đất khô, khói lò, nhiệt độ cao khi ra lò, và tai nạn với máy đùn, băng tải, xe goòng. Ở dây chuyền gạch khí chưng áp, nồi chưng áp là thiết bị chịu áp lực, phải được kiểm định định kỳ theo quy định.
Nước thải của nghề đá chứa bùn mịn; nếu xả thẳng sẽ bồi lấp kênh mương. Xưởng làm bài bản có bể lắng nhiều ngăn và tuần hoàn nước. Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 và Luật Bảo vệ môi trường 2020 đặt nguyên tắc chung cho cả hai nghề; yêu cầu cụ thể theo từng loại hình bạn cần kiểm văn bản hiện hành.
Câu hỏi thường gặp
Gạch tuynel khác gạch lò thủ công thế nào?
Gạch tuynel được nung trong lò liên tục có kiểm soát nhiệt, nên chín đều, kích thước ổn định, ít viên sống hay quá lửa. Gạch lò thủ công nung theo mẻ trong lò tạm, chất lượng không đều và gây khói nặng. Ở góc sản xuất, lò tuynel tiết kiệm nhiên liệu và kiểm soát được khí thải tốt hơn.
Vì sao gạch không nung được khuyến khích?
Gạch không nung không cần nung bằng than củi nên giảm khí thải, không dùng đất ruộng làm nguyên liệu, và tận dụng được cát, đá mạt, tro xỉ nhiệt điện. Một số loại như gạch bê tông khí còn nhẹ và cách nhiệt tốt, giảm tải trọng công trình.
Mở xưởng gạch block nhỏ cần lưu ý gì về chất lượng?
Điểm quan trọng nhất là tỷ lệ xi măng đúng, hỗn hợp đủ ẩm khi ép và đủ thời gian bảo dưỡng ẩm trước khi xuất bãi. Xưởng nên thử cường độ mẫu gạch theo tiêu chuẩn sản phẩm định kỳ, thay vì chỉ ước lượng bằng mắt.
Đá granite tự nhiên và đá nhân tạo khác nhau ở khâu sản xuất thế nào?
Đá granite tự nhiên được khai thác thành khối ở mỏ rồi xẻ, mài thành tấm. Đá nhân tạo gốc thạch anh được làm từ bột và hạt thạch anh trộn chất kết dính, ép rung chân không và đóng rắn trong nhà máy. Một bên phụ thuộc mỏ, một bên phụ thuộc dây chuyền.
Bệnh bụi phổi silic có phòng được không?
Phòng được bằng cách giảm bụi tại nguồn: cắt, mài ướt, hút bụi tại chỗ, thông gió, và dùng khẩu trang lọc bụi đạt chuẩn. Người làm nghề nên khám sức khoẻ định kỳ có chụp phổi. Bệnh khi đã mắc thì không hồi phục, nên phòng ngừa là cách duy nhất.