Xí nghiệp nhuộm và hoàn tất là nơi vải mộc được tẩy sạch, nhuộm màu và xử lý để có cảm giác tay, độ co và tính năng mong muốn. Đây là khâu hoá học và nhiệt của chuỗi dệt may: cần nước, hơi nóng, hoá chất và một phòng pha màu giỏi. Cũng vì những thứ đó mà nhuộm thường được đặt thành xí nghiệp riêng, ở nơi có hạ tầng xử lý nước thải.
Bài này đi vào bên trong một xí nghiệp nhuộm: chọn thuốc nhuộm theo loại xơ, các loại máy nhuộm, phòng pha màu làm việc thế nào, các kiểu hoàn tất, và những ràng buộc về môi trường, an toàn khiến khâu này khó mở nhỏ lẻ. Cuối bài là gợi ý cho người cần tìm nơi nhuộm lô vừa và nhỏ.
Mỗi loại xơ cần một họ thuốc nhuộm riêng
Thuốc nhuộm không bám vào mọi loại xơ như nhau. Chọn sai họ thuốc thì màu nhạt, loang hoặc phai ngay lần giặt đầu. Bảng dưới tóm các cặp xơ và thuốc nhuộm thường gặp ở mức nguyên lý.
| Loại xơ | Họ thuốc nhuộm thường dùng | Đặc điểm khi nhuộm |
|---|---|---|
| Bông, viscose, lanh | Thuốc nhuộm hoạt tính; ngoài ra hoàn nguyên, trực tiếp | Thuốc liên kết với xơ trong môi trường kiềm, cần muối và nhiều lần giặt sau nhuộm |
| Polyester | Thuốc nhuộm phân tán | Nhuộm ở nhiệt độ cao trong máy kín chịu áp, sau đó giặt khử để màu bền |
| Nylon, len, tơ tằm | Thuốc nhuộm axit | Nhuộm trong môi trường axit nhẹ, nhiệt độ vừa phải |
| Vải pha bông và polyester | Phối hai họ thuốc | Phải nhuộm hai giai đoạn hoặc dùng quy trình riêng, khó khớp màu hơn |
| Sợi jean | Thuốc nhuộm chàm | Thường nhuộm sợi dọc trước khi dệt, không nhuộm vải thành phẩm |
Bảng này giải thích một hiện tượng hay gặp: vải pha nhuộm xong đôi khi có ánh màu khác ở hai loại sợi, vì mỗi loại ăn một họ thuốc khác nhau. Xí nghiệp nhuộm có kinh nghiệm với vải pha thường được tìm đến chính vì cái khó này.
Máy nhuộm: chọn theo dạng vải và lô hàng
Vải dệt kim mềm, dễ bai, thường được nhuộm trong máy nhuộm dạng tràn hay máy jet: vải nối thành vòng, chạy liên tục trong buồng kín nhờ dòng dung dịch nhuộm đẩy đi. Máy jet cao áp dùng cho polyester vì chịu được nhiệt độ cao. Mỗi máy có sức chứa khác nhau, và đây là gốc của khái niệm lô nhuộm: một mẻ máy là một lô màu.
Vải dệt thoi khổ phẳng có thể nhuộm trên máy jigger, vải được cuộn qua lại giữa hai trục qua máng thuốc nhuộm, hợp với lô vừa. Với lô rất lớn, nhà máy dùng dây chuyền nhuộm liên tục: vải ngấm thuốc qua máng ép, rồi đi qua buồng hấp hoặc gia nhiệt để cố định màu, giặt và sấy trong cùng một dòng chạy. Ngoài ra còn nhuộm sợi dạng búp trước khi dệt, cho vải sọc, vải kẻ.
Điều người đặt hàng cần nhớ: hai lô nhuộm khác nhau gần như luôn chênh màu ít nhiều, dù cùng công thức. Vì thế xưởng may phải cắt các chi tiết của một sản phẩm từ cùng một lô, và đơn lớn hơn sức chứa một máy sẽ phải chấp nhận nhiều lô với dải sai lệch màu thoả thuận trước.
Máy nhuộm cũ thường tốn nước hơn trên mỗi cân vải so với máy đời mới có tỷ lệ dung dịch thấp. Với xí nghiệp nhuộm, thay máy không chỉ để nhuộm đẹp hơn mà còn để giảm nước, giảm hơi và giảm lượng nước thải phải xử lý, nhóm chi phí lớn nhất trong vận hành.
Phòng pha màu: nơi quyết định nhuộm có đúng mẫu hay không
Khi khách gửi một mẫu màu, có thể là mảnh vải, mã màu trong một bảng màu thông dụng hoặc một mẫu giấy, phòng pha màu bắt đầu thử trên máy nhuộm mẫu nhỏ. Kỹ thuật viên chọn thuốc, pha công thức, nhuộm vài mảnh, rồi so với mẫu chuẩn. Thường phải qua vài vòng mới đạt, sau đó gửi khách duyệt mẫu nhuộm thử trước khi chạy sản xuất.
So màu được làm bằng hai cách song song. Bằng mắt trong tủ so màu có nhiều nguồn sáng tiêu chuẩn, như ánh sáng ban ngày, đèn cửa hàng, đèn sợi đốt; và bằng máy đo màu quang phổ cho ra con số chênh lệch màu. Lý do phải xem dưới nhiều nguồn sáng là hiện tượng hai màu trông giống nhau dưới đèn này nhưng khác nhau dưới đèn kia, rất hay xảy ra khi công thức thuốc khác với mẫu gốc.
Từ mẫu phòng thí nghiệm ra máy sản xuất lại là một bước khó nữa, vì máy lớn có tỷ lệ nước, tốc độ, nhiệt khác máy nhỏ. Xí nghiệp nhuộm giỏi có dữ liệu chuyển đổi tích luỹ qua nhiều năm và đạt màu ngay mẻ đầu với tỷ lệ cao. Xí nghiệp yếu phải nhuộm bù, nhuộm lại, vừa tốn hoá chất vừa làm vải yếu đi.
Hoàn tất: những gì xảy ra sau khi vải đã có màu
Vải nhuộm xong vẫn chưa dùng được ngay. Khâu hoàn tất quyết định vải mềm hay cứng, co bao nhiêu sau giặt, có thêm tính năng gì. Các bước thường gặp:
- Văng sấy định hình: vải được kẹp hai mép, kéo đúng khổ và sấy qua buồng nhiệt; với polyester, bước này còn ổn định kích thước bằng nhiệt.
- Phòng co cơ học cho vải bông, ép vải co trước để sau khi may và giặt ít co nữa.
- Làm mềm bằng hoá chất hoàn tất, giúp cảm giác tay mịn hơn và dễ may hơn.
- Cào lông, mài lông để có mặt vải nỉ, vải da đào.
- Hoàn tất chức năng như chống nhăn, chống thấm nước, kháng khuẩn, chống tia cực tím, tuỳ yêu cầu của khách và tuỳ hoá chất được phép ở thị trường đích.
- Kiểm cuối: đo khổ, đo trọng lượng trên mét vuông, đo độ co, kiểm màu so với mẫu duyệt, soi lỗi và cuộn cây.
Phần hoàn tất chức năng là nơi khách mua quốc tế hay hỏi kỹ về hoá chất, vì một số hoá chất chống thấm và chống nhăn bị hạn chế ở nhiều thị trường. Xí nghiệp cần biết mình dùng gì và có tài liệu an toàn của từng loại.
Nước, hơi nóng và nước thải: lý do nhuộm khó mở nhỏ lẻ
Nhuộm cần ba thứ hạ tầng mà khâu may không cần. Thứ nhất là nguồn nước đủ và ổn định, vì mỗi mẻ nhuộm đi kèm nhiều lần giặt. Nước cứng hay có sắt còn phải xử lý trước, nếu không màu sẽ lệch. Thứ hai là hơi nóng, thường từ nồi hơi đốt than, củi, sinh khối hoặc khí; nồi hơi là thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và phải có người vận hành được đào tạo.
Thứ ba là hệ thống xử lý nước thải. Nước thải nhuộm có màu, có muối, nhiệt độ cao, độ kiềm hoặc axit thay đổi theo mẻ. Theo nguyên lý của Luật Bảo vệ môi trường 2020, cơ sở phát sinh nước thải loại này phải xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả hoặc đấu nối vào hệ thống xử lý tập trung, và chịu sự quan trắc. Chi phí đầu tư và vận hành trạm xử lý là lý do chính khiến nhuộm khó làm ở quy mô hộ gia đình.
Vì vậy nhiều địa phương yêu cầu xưởng nhuộm đặt trong khu, cụm có hạ tầng xử lý nước thải, và các làng nghề nhuộm truyền thống từng phải di dời hoặc thu hẹp vì ô nhiễm. Với người đọc, khi thấy một xưởng nhuộm nhận lô rất nhỏ với giá rẻ bất thường, câu hỏi nên đặt là nước thải đang đi đâu.
An toàn trong xưởng nhuộm: nhiệt, hoá chất và sàn ướt
Nguy cơ đặc thù của xưởng nhuộm khác hẳn xưởng may. Hơi nóng và nước nóng có thể gây bỏng; máy nhuộm cao áp nếu mở nắp khi chưa hạ áp và nhiệt là tình huống nguy hiểm, nên quy trình vận hành phải có khoá liên động và người đứng máy được huấn luyện. Sàn ướt, trơn, có hoá chất làm tăng nguy cơ trượt ngã.
Hoá chất trong xưởng gồm kiềm, axit, chất oxy hoá dùng để tẩy, các chất trợ nhuộm và bột thuốc nhuộm. Bột thuốc nhuộm có thể gây kích ứng đường hô hấp khi cân pha; kiềm và axit đặc gây bỏng da và mắt. Nguyên tắc là có phiếu an toàn hoá chất cho từng loại, kho hoá chất tách biệt, khu cân pha có thông gió, trang bị kính, găng, ủng phù hợp, và vòi rửa mắt khẩn cấp gần chỗ dùng.
Các nguyên tắc này thuộc Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 và các quy định về hoá chất; bạn nên kiểm văn bản hiện hành, nhất là quy định về Luật Hoá chất vì có thay đổi trong những năm gần đây. Bài này không hướng dẫn pha chế hoá chất; mọi công thức nhuộm thuộc về phòng kỹ thuật của xí nghiệp.
Tìm nơi nhuộm lô vừa và nhỏ: nên hỏi gì
Nhà nhuộm lớn thường không mặn mà với lô nhỏ vì một mẻ máy lớn nhuộm ít vải vẫn tốn gần như cùng lượng nước, hơi và công. Người cần nhuộm lô vừa và nhỏ thường tìm đến xí nghiệp có máy nhuộm nhỏ, hoặc nhờ thương nhân vải gom nhiều đơn cùng màu.
Khi trao đổi, bạn nên hỏi rõ: xí nghiệp có máy phù hợp với loại vải của bạn không, sai lệch màu giữa các lô được chấp nhận đến đâu, họ có phòng pha màu và tủ so màu không, độ co và độ bền màu được kiểm bằng cách nào, nước thải xử lý ở đâu. Câu trả lời cho câu cuối cũng là thông tin về độ bền của nhà cung cấp, vì xưởng không đạt môi trường có thể bị đình chỉ bất cứ lúc nào.
Một cách làm thực tế là đặt nhuộm thử một lô nhỏ trước, gửi vải đã nhuộm đi giặt thử, đo co và so màu dưới ánh sáng ban ngày lẫn đèn cửa hàng, rồi mới đặt lô chính. Ghi lại thông số của lô thử làm chuẩn cho các lô sau. Khi đổi nhà nhuộm giữa chừng, hãy gửi cho nhà mới cả mẫu vải lô cũ lẫn phiếu thông số, vì màu chuẩn trên giấy hiếm khi đủ để khớp với hàng đã bán.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao vải nhuộm hai lần cùng màu vẫn khác nhau?
Vì mỗi mẻ nhuộm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: lô vải mộc, độ cứng của nước, nhiệt độ thực tế, thời gian, tỷ lệ nước trên vải. Dù cùng công thức, hai mẻ gần như luôn chênh nhau một chút. Ngành chấp nhận một dải sai lệch được thoả thuận trước, và xưởng may cắt các chi tiết của một sản phẩm từ cùng một lô.
Độ bền màu gồm những chỉ tiêu gì?
Các chỉ tiêu thường được hỏi là độ bền màu khi giặt, khi ma sát khô và ướt, với mồ hôi, với ánh sáng và với nước. Mỗi chỉ tiêu được thử theo phương pháp tiêu chuẩn và chấm theo thang cấp. Khách mua thường nêu cấp tối thiểu cần đạt cho từng loại sản phẩm.
Nhuộm sợi và nhuộm vải khác nhau thế nào?
Nhuộm sợi là nhuộm trước khi dệt, dùng cho vải sọc, vải kẻ, vải jean hoặc khi cần màu thấm đều vào lõi sợi. Nhuộm vải là nhuộm sau khi dệt, linh hoạt hơn và phổ biến hơn với vải trơn. Mỗi cách cần máy khác và cho hiệu ứng khác trên mặt vải.
Xưởng nhuộm nhỏ có đáng tin không?
Có những xưởng nhỏ làm tốt, nhưng nên kiểm thêm vài điều: họ có xử lý nước thải hợp lệ không, có phòng pha màu và tủ so màu không, có lưu mẫu từng lô không. Một xưởng không có hạ tầng môi trường có thể phải dừng đột ngột, làm đơn hàng của bạn mắc kẹt.
Hoàn tất chống thấm có ảnh hưởng gì khi xuất khẩu?
Một số hoá chất chống thấm và chống bám bẩn bị hạn chế ở nhiều thị trường do lo ngại tồn lưu trong môi trường. Khi nhận đơn có yêu cầu chống thấm, xí nghiệp nên hỏi khách danh mục hoá chất bị hạn chế mà họ áp dụng và chọn hoá chất phù hợp, giữ tài liệu chứng minh.
Học ngành gì để làm kỹ thuật nhuộm?
Các trường đào tạo công nghệ dệt may, công nghệ hoá học thường có chuyên ngành hoặc học phần về nhuộm và hoàn tất. Ngoài kiến thức hoá học thuốc nhuộm, người làm nhuộm học nhiều qua thực tế ở phòng pha màu, vì khả năng nhìn màu và chuyển công thức từ mẫu sang máy cần thời gian tích luỹ.