Ngành mây tre đan, cói, lục bình xuất khẩu vận hành theo mô hình vệ tinh: xưởng hoặc công ty nhận đơn, sơ chế nguyên liệu và làm khung, phát việc cho hàng trăm hộ đan tại nhà, rồi thu về hoàn thiện, kiểm và đóng gói. Rất ít sản phẩm được làm trọn trong một nhà xưởng; phần đan gần như luôn diễn ra ở hiên nhà, sân đình, trong lúc nông nhàn.
Mô hình này cho ngành sức chịu đựng tốt và nhiều việc làm ở nông thôn, nhưng cũng đặt ra những khó khăn riêng về chất lượng đồng đều, ẩm mốc và tiến độ. Bài này đi qua chuỗi từ vùng nguyên liệu tới container, các làng nghề nổi tiếng chắc chắn, và cách đọc năng lực của một xưởng trong ngành.
Bốn nhóm nguyên liệu đan và nơi chúng đến từ
Mỗi nhóm nguyên liệu có vùng trồng, cách sơ chế và dòng sản phẩm riêng. Bảng dưới là mô tả chung, không phải danh sách đầy đủ.
| Nguyên liệu | Nguồn thường gặp | Sơ chế chính | Sản phẩm điển hình |
|---|---|---|---|
| Tre, luồng, giang | Rừng trồng và vườn nhà ở trung du, miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ | Chặt đúng tuổi, ngâm hoặc luộc, chẻ, vót, phơi sấy | Rổ rá, khay, đèn, đồ nội thất tre |
| Mây, song | Mây rừng trong nước ngày càng ít; một phần đáng kể nhập khẩu | Phân loại cỡ sợi, chuốt, tẩy, phơi | Giỏ, ghế, đồ nội thất mây cao cấp |
| Cói | Vùng đất ven biển nhiễm mặn như Nga Sơn (Thanh Hoá), Kim Sơn (Ninh Bình) | Phơi, chẻ, se sợi, nhuộm | Chiếu, thảm, giỏ, túi cói |
| Lục bình | Sông ngòi, kênh rạch đồng bằng sông Cửu Long và nhiều vùng khác | Vớt, cắt cọng, phơi khô, se sợi | Giỏ, thảm, vỏ chậu, đồ nội thất bện |
Điểm chung của cả bốn nhóm là nguyên liệu hữu cơ, hút ẩm và dễ mốc. Mọi công đoạn sau đó đều xoay quanh việc giữ nguyên liệu khô và sạch nấm mốc từ lúc thu hái đến lúc mở thùng ở nước nhập khẩu.
Chuỗi một đơn hàng giỏ đan đi từ xưởng tới hộ và quay về
Lấy ví dụ giả định một đơn vài nghìn chiếc giỏ đan lục bình trên khung sắt:
- Làm mẫu và chốt mẫu. Xưởng làm mẫu theo yêu cầu khách, tính lượng nguyên liệu và công đan mỗi chiếc.
- Làm khung. Khung sắt được hàn, sơn tĩnh điện chống gỉ ở xưởng cơ khí; với hàng tre, khung có thể làm bằng tre uốn.
- Chuẩn bị nguyên liệu. Sợi lục bình được kiểm độ khô, phân cỡ, có thể xử lý chống mốc trước khi phát.
- Phát việc qua đầu mối. Mỗi làng hoặc xóm có một đầu mối nhận khung và nguyên liệu, chia cho các hộ, kèm mẫu đối chiếu.
- Đan tại hộ. Người đan làm tại nhà, được trả công theo sản phẩm đạt.
- Thu gom và kiểm sơ bộ. Đầu mối kiểm dáng, độ chặt, mối đan, trả lại hàng lỗi để sửa.
- Hoàn thiện tại xưởng. Sấy lại, cắt sợi thừa, phun lớp phủ hoặc sơn theo yêu cầu, kiểm lần cuối.
- Đóng gói chống ẩm. Đóng túi, xếp lồng nhau để tiết kiệm thể tích, bỏ gói hút ẩm, đóng thùng.
Chuỗi càng nhiều tầng thì càng khó giữ chất lượng đều. Xưởng tốt thường có người kiểm đi xuống tận các đầu mối trong lúc hộ đang đan, không đợi đến khi hàng đã về xưởng.
Làng nghề nổi tiếng và các vùng sản xuất
Ở phía Bắc, làng Phú Vinh ở Hà Nội nổi tiếng lâu đời về mây tre đan, đặc biệt các sản phẩm đan mảnh, đan tinh xảo. Quanh Hà Nội và đồng bằng sông Hồng còn nhiều làng đan mây tre, đan giang khác, cùng nhiều hộ đan vệ tinh cho công ty xuất khẩu.
Nghề cói gắn với vùng đất ven biển nhiễm mặn. Nga Sơn ở Thanh Hoá nổi tiếng với chiếu cói và hàng cói thủ công mỹ nghệ; Kim Sơn ở Ninh Bình cũng là vùng cói lâu đời. Ở đây có cả hộ trồng cói, hộ se sợi, hộ dệt chiếu và đan giỏ, cùng một số công ty thu mua và xuất khẩu.
Lục bình vốn là cây mọc dại trên sông, từng bị coi là phiền toái với giao thông thuỷ. Khi thành nguyên liệu đan, nó tạo ra nghề phụ ở nhiều vùng của đồng bằng sông Cửu Long, với các hộ vớt, phơi, se sợi và đan. Tre, luồng thì gắn với vùng trung du và miền núi phía Bắc, Thanh Hoá, Nghệ An, nơi có rừng luồng rộng; ở đây có xưởng chẻ nan, làm đũa, làm mành và cung cấp nan cho các làng đan nơi khác. Mỗi vùng có thế mạnh riêng, nên một công ty xuất khẩu đồ đan thường làm việc với nhiều vùng cùng lúc.
Những điểm yếu cố hữu của chuỗi đồ đan
Ẩm mốc. Nguyên liệu hữu cơ hút ẩm, hàng đan tại nhà nông thôn để trong điều kiện không kiểm soát. Hàng có thể khô ráo khi rời xưởng, rồi mốc trong container sau vài tuần trên biển. Đây là nguyên nhân khiếu nại phổ biến nhất của ngành. Một lô bị mốc thường không chỉ mất tiền hàng mà còn mất luôn khách, vì nhà nhập khẩu phải tự xử lý hàng loạt sản phẩm trên kệ của họ.
Độ đồng đều. Mỗi người đan có tay riêng, độ chặt và kích thước dao động. Đơn hàng lớn đòi hỏi phải có mẫu đối chiếu ở mỗi đầu mối và kiểm giữa chừng.
Tiến độ phụ thuộc mùa vụ. Người đan phần lớn là nông dân, vào mùa cấy gặt thì sản lượng giảm hẳn. Xưởng nhận đơn phải tính lịch này khi hứa ngày giao.
Hoá chất xử lý. Một số cách chống mốc, chống mọt truyền thống dùng hoá chất mà thị trường nhập khẩu hạn chế. Khách lớn thường hỏi xưởng dùng chất gì, có phiếu an toàn hoá chất không. Xưởng nên chọn cách xử lý được chấp nhận ở thị trường đơn hàng và dặn kiểm quy định hiện hành.
Truy xuất người làm. Khách mua quốc tế ngày càng hỏi về điều kiện lao động trong chuỗi, kể cả hộ đan tại nhà. Xưởng nên giữ danh sách đầu mối, hộ nhận việc và cách trả công.
Đọc năng lực một xưởng mây tre đan khi tìm nguồn hàng
Những câu hỏi và điểm quan sát dưới đây giúp phân biệt xưởng thật sự điều phối được chuỗi với đơn vị chỉ gom hàng:
- Xưởng có bao nhiêu đầu mối và ở những vùng nào; có thể đưa bạn đến một điểm đan đang làm hàng không.
- Nguyên liệu được kiểm độ ẩm thế nào trước khi phát và khi thu về; có máy đo ẩm và sổ ghi không.
- Xưởng có lò sấy hoặc phòng sấy cho thành phẩm không, hay chỉ phơi nắng.
- Khung sắt do xưởng tự làm hay thuê; sơn tĩnh điện ở đâu, có chống gỉ được khi đi biển không.
- Khi hàng bị trả về vì mốc, xưởng đã xử lý ra sao; câu trả lời cụ thể là dấu hiệu xưởng có kinh nghiệm.
- Xưởng giữ mẫu đối chứng của từng đơn trong bao lâu.
- Xưởng xử lý chống mốc bằng chất gì, có phiếu an toàn hoá chất của chất đó không, và đã từng gửi hàng tới thị trường khó tính nào.
- Trong mùa cấy gặt, xưởng giữ tiến độ bằng cách nào: có tổ đan tập trung, có đầu mối ở vùng không làm nông, hay lùi ngày giao.
Nếu bạn đang tìm xưởng đồ đan đúng loại nguyên liệu hoặc muốn đưa cơ sở đan của mình vào danh bạ, có thể để lại thông tin ở khung cuối trang để Xí Nghiệp liên hệ lại.
Đóng gói và vận chuyển: vì sao thể tích quyết định giá thành
Đồ đan nhẹ nhưng cồng kềnh. Một chiếc giỏ, một chiếc ghế mây chiếm nhiều không khí hơn nguyên liệu, và cước biển tính theo thể tích container. Vì vậy thiết kế để xếp lồng là một phần quan trọng của sản phẩm: bộ giỏ ba cỡ lồng vào nhau, ghế có chân tháo rời, khay xếp chồng. Một mẫu đẹp nhưng không xếp lồng được có thể bị khách từ chối chỉ vì chi phí vận chuyển mỗi chiếc quá cao.
Khâu đóng gói còn là tuyến phòng thủ cuối cùng chống ẩm. Xưởng có kinh nghiệm sẽ đóng hàng vào ngày khô ráo, trong khu vực có mái che kín, đặt gói hút ẩm trong từng thùng và treo thêm túi hút ẩm trong container, lót giấy dọc vách container để hơi nước ngưng tụ không nhỏ thẳng xuống hàng.
Ví dụ giả định: một xưởng đổi mẫu khay tre từ dạng có quai cố định sang quai gập, nhờ đó xếp chồng sát hơn và mỗi thùng chứa thêm được nhiều chiếc. Chi phí mỗi sản phẩm giảm mà không phải cắt công người đan. Những thay đổi kiểu này thường đến từ việc người làm mẫu ngồi cùng người đóng gói ngay từ đầu.
Từ hộ đan đến công ty: ngành này đang thay đổi thế nào
Mô hình vệ tinh vẫn là xương sống, nhưng đang có ba hướng thay đổi. Thứ nhất, nhiều xưởng đưa khâu đan vào nhà xưởng tập trung cho những dòng hàng đòi chất lượng cao, để kiểm soát ẩm và tay nghề. Thứ hai, đồ đan kết hợp vật liệu khác ngày càng nhiều: khung kim loại, mặt gỗ, sợi nhựa giả mây dùng ngoài trời. Thứ ba, khách mua đòi hồ sơ rõ ràng hơn về nguồn nguyên liệu, hoá chất và điều kiện làm việc.
Với hộ và tổ đan, điều này có nghĩa là những nơi có tổ chức tốt hơn, có hợp tác xã hay đầu mối đáng tin, sẽ giữ được đơn hàng ổn định. Với người tìm nguồn hàng, nó có nghĩa là nên nhìn vào khả năng điều phối và kiểm soát của xưởng, không chỉ nhìn vào mẫu đẹp trong phòng trưng bày.
Một thay đổi nữa ít được nói tới là tuổi của người đan. Ở nhiều làng, người trẻ đi làm nhà máy hoặc lên thành phố, người đan chủ yếu là phụ nữ trung niên và người cao tuổi. Xưởng muốn giữ nguồn tay nghề phải tính đến việc dạy nghề cho người mới, chia mẫu khó cho tổ có tay nghề cao và mẫu dễ cho người mới vào.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao đồ mây tre đan xuất khẩu hay bị mốc khi tới nơi?
Nguyên liệu hữu cơ hút ẩm từ không khí, và container đi biển trải qua nhiều lần nóng lạnh làm hơi nước ngưng tụ. Nếu hàng chưa đủ khô trước khi đóng gói, hoặc thiếu gói hút ẩm và lớp phủ phù hợp, nấm mốc phát triển trên đường đi.
Mây dùng trong đồ đan ở Việt Nam có phải đều là mây trong nước không?
Không. Nguồn mây rừng trong nước đã suy giảm nhiều so với trước, nên một phần đáng kể mây dùng cho hàng xuất khẩu được nhập từ các nước trong khu vực. Tre, luồng, cói và lục bình thì chủ yếu là nguồn trong nước.
Người đan tại nhà được trả công thế nào?
Thông thường người đan được trả theo sản phẩm đạt yêu cầu, qua đầu mối ở làng. Mức trả tuỳ độ khó của mẫu và thoả thuận từng nơi. Khách mua quốc tế ngày càng muốn xưởng minh bạch cách trả công trong chuỗi vệ tinh này.
Sợi nhựa giả mây có thuộc ngành mây tre đan không?
Về kỹ thuật đan thì giống, và nhiều xưởng mây tre làm cả hai. Nhưng nguyên liệu là sợi nhựa ép đùn, dùng cho đồ ngoài trời vì chịu nắng mưa tốt hơn. Về chuỗi cung ứng, nó gắn với ngành nhựa nhiều hơn là vùng nguyên liệu tự nhiên.
Làm sao biết một xưởng đồ đan có thật sự điều phối hộ đan hay chỉ đi gom hàng?
Hỏi xem xưởng có danh sách đầu mối, có phát khung và nguyên liệu, có người kiểm đi xuống các điểm đan không, và xin đi thăm một điểm. Xưởng điều phối thật thường trả lời cụ thể về số đầu mối, vùng và lịch kiểm, còn đơn vị gom hàng thường chỉ nói về giá và mẫu.