Mỗi ngành sản xuất có vài nguy cơ đặc thù mà nội quy an toàn chung không nói đủ: xưởng dệt có bụi bông, xưởng gỗ có bụi gỗ vừa hại phổi vừa có thể cháy nổ, xưởng nhuộm và xi mạ có hoá chất, kho lạnh thuỷ sản có amoniac, xưởng cơ khí có máy dập, xưởng điện tử có tĩnh điện. Nhận diện đúng nguy cơ của ngành mình là bước đầu tiên, vì biện pháp chung chung thường bỏ sót đúng chỗ nguy hiểm nhất.
Bài này đi qua từng nhóm nguy cơ theo ngành ở mức nguyên lý: nguy cơ đến từ đâu, gây hại thế nào, và thứ tự biện pháp thường áp dụng. Khung pháp lý chung là Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 cùng các quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành; bài không thay cho đánh giá rủi ro tại chỗ của người có chuyên môn, và bạn cần kiểm văn bản hiện hành cho ngành của mình.
Vì sao phải nhìn nguy cơ theo ngành
Nội quy an toàn chung của nhà máy thường có những điều như đi đúng lối, mang bảo hộ, không hút thuốc, biết vị trí bình chữa cháy. Những điều đó cần nhưng chưa đủ. Một xưởng gỗ tuân thủ đủ nội quy chung vẫn có thể có lớp bụi mịn đọng trên xà nhà, chỉ chờ một tia lửa. Một kho lạnh có đủ bình chữa cháy vẫn có thể thiếu thiết bị báo rò khí lạnh.
Nguy cơ đặc thù thường ít xảy ra nhưng hậu quả nặng, hoặc gây hại âm thầm qua nhiều năm như bệnh nghề nghiệp. Vì ít thấy hằng ngày nên dễ bị coi nhẹ. Người mới vào ngành, kể cả quản lý chuyển từ ngành khác sang, thường không biết chúng tồn tại cho đến khi có sự cố.
Cách tiếp cận phổ biến khi xử lý một nguy cơ là đi theo thứ tự ưu tiên: loại bỏ hoặc thay thế nguồn nguy hiểm nếu được; nếu không thì cô lập bằng biện pháp kỹ thuật như che chắn, hút bụi, thông gió; tiếp đến là biện pháp tổ chức như quy trình, huấn luyện, luân chuyển; và cuối cùng mới là phương tiện bảo vệ cá nhân. Khẩu trang và găng tay là lớp bảo vệ cuối, không phải lớp đầu tiên.
Ngành – nguy cơ chính – biện pháp theo thứ tự ưu tiên
Bảng tóm tắt dưới đây ở mức nguyên lý. Mỗi xí nghiệp cần đánh giá rủi ro cụ thể tại chỗ.
| Ngành | Nguy cơ đặc thù | Biện pháp kỹ thuật và tổ chức | Bảo vệ cá nhân |
|---|---|---|---|
| Kéo sợi, dệt | Bụi bông gây bệnh hô hấp; tiếng ồn máy dệt | Hút bụi tại nguồn, giữ ẩm hợp lý, vệ sinh bằng hút thay vì thổi; giảm ồn, luân chuyển | Khẩu trang lọc bụi phù hợp, nút tai |
| Chế biến gỗ | Bụi gỗ hại phổi và có thể cháy nổ; máy cưa, bào | Hệ hút bụi tại máy, không để bụi đọng, kiểm soát nguồn lửa; che chắn lưỡi cưa | Khẩu trang lọc bụi, kính, nút tai |
| Nhuộm, xi mạ, sơn | Hoá chất ăn mòn, độc, dễ cháy; hơi dung môi | Thông gió, hút hơi tại bể, lưu trữ tách chất kỵ nhau, phiếu an toàn hoá chất | Găng, kính, tạp dề, mặt nạ phù hợp loại hoá chất |
| Kho lạnh dùng amoniac | Rò khí độc, có thể cháy nổ ở nồng độ nhất định | Thiết bị báo rò, thông gió sự cố, quy trình ứng phó, kiểm tra van và đường ống | Mặt nạ phòng độc, đồ bảo hộ cho đội ứng phó |
| Cơ khí, dập | Kẹp, cắt tay ở máy dập, máy ép; mảnh văng; tiếng ồn | Che chắn, điều khiển hai tay, rèm sáng, khoá và treo thẻ khi sửa | Kính, giày mũi cứng, nút tai |
| Điện tử | Tĩnh điện hỏng linh kiện; hơi hàn; dung môi tẩy rửa | Hệ thống chống tĩnh điện, hút khói hàn, kiểm soát dung môi | Vòng đeo tay nối đất, quần áo chống tĩnh điện |
Cột bảo vệ cá nhân để cuối có chủ ý: nếu một xưởng chỉ có cột đó mà thiếu cột trước, nguy cơ vẫn còn nguyên, chỉ được che đi một phần.
Bụi bông và bụi gỗ: hại phổi và nguy cơ cháy nổ bụi
Bụi bông sinh ra ở các công đoạn xử lý xơ, kéo sợi, dệt. Hít bụi bông lâu năm có thể gây bệnh đường hô hấp; bệnh bụi phổi bông nằm trong danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm theo quy định. Biện pháp chính là hút bụi tại nguồn, vệ sinh bằng hút thay vì dùng khí nén thổi làm bụi bay khắp xưởng, và quan trắc môi trường lao động định kỳ để biết nồng độ bụi thực tế.
Bụi gỗ có hai mặt nguy hiểm. Mặt thứ nhất là sức khoẻ: bụi gỗ mịn từ máy chà nhám, cưa, phay gây kích ứng đường hô hấp, và một số loại bụi gỗ được các tổ chức y tế quốc tế xếp vào nhóm có thể gây ung thư khi phơi nhiễm lâu dài. Mặt thứ hai là cháy nổ bụi: bụi gỗ, cũng như bụi bột, bụi đường, bụi kim loại nhẹ, khi lơ lửng trong không khí ở nồng độ đủ cao và gặp nguồn lửa có thể bốc cháy rất nhanh. Lớp bụi đọng trên xà, trên máng đèn, khi bị thổi tung lên là mồi cho một vụ nổ thứ hai lớn hơn.
Vì vậy ở xưởng gỗ, hệ thống hút bụi không chỉ là chuyện sạch sẽ mà là thiết bị an toàn: đường ống, túi lọc, cyclone phải được thiết kế và bảo trì đúng, có tiếp địa, và bụi đọng phải được dọn định kỳ ở cả những chỗ cao khuất.
Hoá chất ở xưởng nhuộm, xi mạ, sơn
Biết mình đang dùng gì. Mỗi hoá chất trong xưởng cần có phiếu an toàn hoá chất do nhà cung cấp cấp, nêu nguy cơ, cách lưu trữ, cách sơ cứu, cách xử lý khi đổ tràn. Phiếu này phải nằm ở chỗ người làm việc với hoá chất đọc được, không chỉ nằm trong tủ văn phòng.
Lưu trữ tách chất kỵ nhau. Axit và kiềm, chất oxy hoá và chất dễ cháy, một số muối kim loại trong bể mạ với axit: để gần nhau có thể sinh phản ứng nguy hiểm khi đổ vỡ. Kho hoá chất cần phân khu, có gờ chặn tràn, thông gió.
Kiểm soát hơi tại nguồn. Bể mạ, bể nhuộm nóng, buồng sơn sinh hơi hoá chất và dung môi. Hút hơi tại bể, buồng sơn có lọc và thông gió hiệu quả hơn nhiều so với chỉ phát khẩu trang.
Có chỗ rửa mắt, tắm khẩn cấp. Ở khu vực có hoá chất ăn mòn, vòi rửa mắt và vòi tắm khẩn cấp gần chỗ làm việc giúp giảm tổn thương trong những giây đầu tiên sau sự cố.
Khung pháp lý riêng. Ngoài Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, hoạt động với hoá chất chịu sự điều chỉnh của Luật Hoá chất và văn bản hướng dẫn, gồm cả yêu cầu về kế hoạch hoặc biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố tuỳ loại và lượng hoá chất. Khung này có thay đổi gần đây; xí nghiệp cần kiểm văn bản hiện hành.
Amoniac trong kho lạnh thuỷ sản và thực phẩm
Nhiều hệ thống làm lạnh công nghiệp, nhất là ở nhà máy thuỷ sản đông lạnh, kho lạnh lớn, nhà máy bia và sữa, dùng amoniac làm môi chất lạnh vì hiệu quả cao. Amoniac là khí độc, mùi rất hắc, gây kích ứng mạnh mắt và đường hô hấp; ở nồng độ cao có thể gây tổn thương nặng, và trong một khoảng nồng độ nhất định trong không khí có thể cháy nổ.
Các sự cố thường bắt nguồn từ rò rỉ ở van, mối nối, đường ống, hoặc lúc bảo trì, nạp môi chất. Biện pháp phổ biến gồm thiết bị cảm biến báo rò đặt ở những vị trí hợp lý, hệ thống thông gió sự cố, quy trình vận hành và bảo trì rõ ràng, chỉ người được huấn luyện mới thao tác trên hệ thống lạnh, và kế hoạch ứng phó có diễn tập: ai đóng van nào, sơ tán theo hướng nào, tập trung ở đâu.
Với người làm trong nhà máy nhưng không làm ở bộ phận lạnh, điều quan trọng nhất là nhận ra mùi amoniac, biết tín hiệu báo động và lối thoát, và không tự quay lại khu vực rò để lấy đồ. Hệ thống lạnh dùng bình chịu áp lực nên cũng thuộc diện thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, phải kiểm định định kỳ theo quy định.
Máy dập, máy ép, máy cưa: nguy cơ ở bàn tay
Máy dập và máy ép là nguồn tai nạn tay phổ biến. Chày dập đi xuống với lực rất lớn trong tích tắc; một khoảnh khắc mất tập trung khi đặt phôi bằng tay có thể gây chấn thương nghiêm trọng. Nguy cơ tăng ở cuối ca, khi làm thêm giờ, hoặc khi người đứng máy chạy theo sản lượng.
Biện pháp kỹ thuật đi trước. Che chắn cố định vùng nguy hiểm, cơ cấu điều khiển hai tay buộc người vận hành dùng cả hai tay bấm nút, rèm sáng an toàn dừng máy khi có vật đi qua, dụng cụ đưa phôi để tay không phải vào khuôn. Không được tháo hay vô hiệu hoá các thiết bị này để làm nhanh hơn.
Máy cưa và máy bào gỗ. Che chắn lưỡi, cữ chặn, thanh đẩy phôi, và nguyên tắc không đưa tay gần lưỡi đang chạy. Hiện tượng phôi bị bật ngược khi cưa cũng là nguồn chấn thương cần được huấn luyện.
Kiểm tra trước ca. Người đứng máy kiểm thiết bị an toàn hoạt động trước khi chạy. Thiết bị an toàn hỏng là lý do dừng máy, không phải lý do chạy tạm.
Tĩnh điện, tiếng ồn, nhiệt và trách nhiệm theo luật
Ở xưởng điện tử, tĩnh điện chủ yếu là nguy cơ cho sản phẩm: một lần phóng điện mà người không cảm nhận được vẫn đủ làm hỏng linh kiện nhạy. Vì vậy khu lắp ráp có sàn, bàn, vòng tay nối đất và quần áo chống tĩnh điện. Ở những nơi có dung môi, bụi dễ cháy, tĩnh điện còn là nguồn lửa, nên việc tiếp địa thiết bị và thùng chứa là biện pháp an toàn cho cả người.
Tiếng ồn từ máy dệt, máy dập, máy cưa, máy nén khí nếu kéo dài nhiều năm có thể gây điếc nghề nghiệp, cũng là bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm. Nhiệt độ cao ở xưởng có lò, xưởng hàn, mái tôn mùa hè gây mệt, giảm tập trung và tăng tai nạn. Các yếu tố này được đo trong quan trắc môi trường lao động định kỳ.
Theo nguyên lý của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động có trách nhiệm đánh giá và kiểm soát nguy cơ, huấn luyện an toàn cho người lao động, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân phù hợp, quan trắc môi trường lao động, tổ chức khám sức khoẻ định kỳ và khám phát hiện bệnh nghề nghiệp với nghề có nguy cơ, kiểm định thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt. Người lao động có nghĩa vụ chấp hành quy trình và có quyền từ chối làm việc khi thấy rõ nguy cơ đe doạ nghiêm trọng tính mạng, sức khoẻ theo quy định. Chi tiết thi hành nằm ở văn bản hướng dẫn, cần kiểm bản hiện hành.
Câu hỏi thường gặp
Bụi gỗ có thật sự gây nổ được không?
Có. Bụi gỗ mịn, giống nhiều loại bụi hữu cơ khác, khi lơ lửng trong không khí ở nồng độ đủ cao và gặp nguồn lửa như tia lửa điện, tia lửa ma sát, bề mặt nóng có thể cháy lan rất nhanh. Vì vậy xưởng gỗ cần hệ hút bụi đúng, dọn bụi đọng định kỳ và kiểm soát nguồn lửa.
Đeo khẩu trang vải ở xưởng dệt, xưởng gỗ có đủ không?
Thường là không đủ với bụi mịn. Cần loại khẩu trang hoặc mặt nạ lọc bụi phù hợp với loại bụi và nồng độ, được đeo đúng cách. Nhưng quan trọng hơn là giảm bụi tại nguồn bằng hút bụi và vệ sinh đúng, vì khẩu trang chỉ là lớp bảo vệ cuối cùng.
Ngửi thấy mùi amoniac trong nhà máy thì làm gì?
Báo ngay cho người phụ trách và bộ phận lạnh theo quy trình của nhà máy, rời khỏi khu vực theo hướng ngược gió hoặc theo lối thoát đã được hướng dẫn, không tự tìm chỗ rò. Chỉ đội đã được huấn luyện và có thiết bị bảo hộ phù hợp mới vào xử lý.
Người lao động có được từ chối làm việc ở máy thiếu che chắn không?
Theo nguyên lý của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động có quyền từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn đe doạ nghiêm trọng tính mạng, sức khoẻ, và phải báo ngay cho người quản lý trực tiếp. Điều kiện cụ thể cần kiểm văn bản hiện hành.
Quan trắc môi trường lao động là gì?
Là việc đo các yếu tố có hại tại nơi làm việc như bụi, tiếng ồn, nhiệt độ, hơi khí độc, ánh sáng, do tổ chức đủ điều kiện thực hiện định kỳ. Kết quả giúp xí nghiệp biết yếu tố nào vượt mức cho phép để cải thiện, và là căn cứ cho việc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.