XiNghiep.comXí Nghiệp
Chế biến thực phẩm, đồ uống, nông sản và thuỷ sản

Nhà máy chế biến hạt điều, hồ tiêu và gia vị: từ hạt thô đến nhân, tiêu sạch và bột

Hạt điều thô thành nhân trắng qua hấp, cắt, sấy, bóc lụa, phân loại; hồ tiêu qua làm sạch, tiêu trắng, tiệt trùng; quế, hồi. Vùng nguyên liệu và nguy cơ riêng.

Cashew processing room in southern Vietnam, rows of women in aprons and caps seen from behind peeling thin brown skins from pale cashew kernels into metal trays, soft diffuse light

Hạt điều, hồ tiêu và gia vị là ba ngành chế biến nông sản khô có chung một đặc điểm: nguyên liệu bền hơn rau quả tươi nhưng phải qua làm sạch, phân loại kỹ và thường phải xử lý vi sinh trước khi bán cho nhà máy thực phẩm nước ngoài. Riêng hạt điều có thêm một công đoạn khó là tách vỏ cứng chứa dầu ăn da, nên nhà máy điều có dây chuyền dài và cần nhiều lao động.

Bài đi qua dây chuyền của từng ngành ở mức nguyên lý: nhân điều được làm ra thế nào, hạt tiêu đen và tiêu trắng khác nhau ở công đoạn nào, quế và hồi được chế biến ra sao, vùng nguyên liệu theo tỉnh hiện hành, và những yêu cầu mà người mua công nghiệp hay đặt ra. Phần phân loại để mua làm quà thuộc chủ đề khác; ở đây là góc nhà máy.

Vùng nguyên liệu và nguồn hạt điều thô

Cây điều trồng nhiều ở vùng đất đỏ Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Bình Phước cũ, nay thuộc Đồng Nai, từ lâu được xem là thủ phủ điều của cả nước; ngoài ra điều có ở Đồng Nai, Lâm Đồng (gồm Đắk Nông, Bình Thuận cũ), Gia Lai, Đắk Lắk và Tây Ninh. Mùa thu hoạch rơi vào mùa khô, khi hạt chín rụng xuống gốc.

Đặc điểm lớn của ngành điều Việt Nam là năng lực chế biến vượt xa sản lượng trồng trong nước. Vì thế các nhà máy nhập thêm điều thô từ một số nước châu Phi và Campuchia để chạy đủ công suất. Điều này làm nhà máy điều phải quản lý nhiều nguồn hạt khác nhau về độ ẩm, kích cỡ và tỷ lệ thu hồi nhân, và rủi ro chất lượng của hạt nhập khẩu là một mối lo thường trực.

Nhà máy chế biến điều tập trung đông ở vùng Bình Phước cũ, Đồng Nai, Tây Ninh (gồm Long An cũ), vùng Bình Dương cũ nay thuộc TP.HCM, và rải rác ở các tỉnh trồng điều khác. Quy mô từ cơ sở bóc tách gia đình đến nhà máy khép kín có dây chuyền tự động.

Dây chuyền nhân điều: từ hạt thô đến thùng nhân

Hạt điều thô có lớp vỏ cứng bên ngoài chứa dầu ăn da, bên trong là nhân bọc một lớp vỏ lụa mỏng. Mục tiêu của dây chuyền là lấy được nhân nguyên vẹn, trắng, sạch.

  1. Làm sạch và phân cỡ hạt thô bằng sàng quay để các khâu sau chỉnh máy theo từng cỡ.
  2. Xử lý nhiệt bằng hấp hơi hoặc chao dầu để vỏ cứng giòn, dễ tách và giảm dính dầu vào nhân.
  3. Cắt tách vỏ cứng bằng máy cắt bán tự động có người đặt hạt, hoặc máy cắt tự động; nhân được tách khỏi vỏ.
  4. Sấy nhân để giảm ẩm và làm vỏ lụa co lại, dễ bóc.
  5. Bóc vỏ lụa bằng tay với dụng cụ nhỏ hoặc bằng máy thổi khí; hạt còn sót lụa được chuyển lại bóc tay.
  6. Phân loại nhân theo độ nguyên vẹn, kích cỡ và màu: nhân nguyên, nhân vỡ đôi, vỡ ngang, mảnh; nhân trắng, nhân vàng, nhân xém.
  7. Kiểm ẩm, kiểm tạp, kiểm vi sinh, rồi đóng gói trong thùng thiếc hoặc túi bạc hút chân không, nạp khí trơ để chống ôi và côn trùng.

Hệ thống ký hiệu hạng nhân phổ biến dùng chữ cái chỉ màu và độ nguyên, kèm con số chỉ số hạt trên một đơn vị khối lượng; số càng nhỏ, hạt càng to. Phân loại vẫn dùng nhiều lao động vì mắt người nhận ra các lỗi nhỏ mà máy chưa tách hết.

Dầu vỏ hạt điều: nguy cơ đặc thù và phụ phẩm có giá trị

Vỏ hạt điều chứa một loại dầu có tính ăn da mạnh. Công nhân tiếp xúc trực tiếp ở khâu cắt tách, nhất là ở cơ sở nhỏ làm thủ công, dễ bị bỏng rộp, nứt nẻ da tay nếu không có găng phù hợp. Đây là nguy cơ đặc thù của ngành, ngoài các nguy cơ chung như máy cắt kẹp tay, bụi và nhiệt ở khâu sấy.

Nhà máy hiện đại giảm tiếp xúc bằng cách xử lý nhiệt để dầu bớt dính, dùng máy cắt tự động, cấp găng chống hoá chất và bố trí rửa tay thường xuyên. Nguyên tắc chung theo Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015; chi tiết trang bị nên theo đánh giá nguy cơ thực tế của từng xưởng.

Bản thân dầu vỏ hạt điều lại là phụ phẩm có giá trị công nghiệp, được ép ra từ vỏ để làm nguyên liệu cho sơn, chất phủ, vật liệu ma sát. Bã vỏ sau ép dùng làm chất đốt cho lò hơi và lò sấy của chính nhà máy. Một nhà máy điều làm tốt phụ phẩm vừa giảm chất thải vừa tự túc được một phần năng lượng.

Hồ tiêu: từ chùm quả đến hạt tiêu sạch

Hồ tiêu trồng nhiều ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ: Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng (gồm Đắk Nông cũ), Đồng Nai (gồm Bình Phước cũ), vùng Bà Rịa – Vũng Tàu cũ nay thuộc TP.HCM, và đảo Phú Quốc thuộc An Giang. Chùm tiêu sau khi hái được tuốt hạt, phơi hoặc sấy tới khi vỏ đen nhăn, thành tiêu đen.

Ở nhà máy, tiêu đen được làm sạch qua nhiều bước: sàng tách hạt lép, cuống, đá sỏi; quạt và máy phân loại theo tỷ trọng; có khi qua máy tách màu. Hạt tiêu được phân hạng theo dung trọng, tức khối lượng một thể tích hạt nhất định, độ ẩm và tỷ lệ tạp chất; dung trọng cao cho thấy hạt chắc, ít lép.

Tiêu trắng được làm bằng cách ngâm hạt tiêu chín để vỏ ngoài mềm, chà bóc vỏ, rửa sạch rồi phơi sấy. Công đoạn ngâm cần nước sạch và kiểm soát kỹ để không sinh mùi và vi sinh. Sau đó cả tiêu đen và tiêu trắng có thể được xay thành bột ở nhà máy gia vị.

Vì sao gia vị xuất khẩu phải tiệt trùng

Nông sản phơi ngoài trời mang vi sinh. Hạt tiêu, quế, ớt phơi trên sân dễ nhiễm vi sinh vật từ đất, bụi, côn trùng. Khi dùng trong thực phẩm chế biến sẵn không qua nấu kỹ, nguy cơ vi sinh trở thành vấn đề lớn với người mua công nghiệp.

Tiệt trùng bằng hơi nước là cách phổ biến. Gia vị được cho tiếp xúc với hơi nước bão hoà trong thời gian ngắn, rồi sấy và làm nguội nhanh để giảm vi sinh mà ít mất hương. Đây là thiết bị đầu tư lớn, chỉ nhà máy gia vị quy mô vừa trở lên mới có.

Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật là mối lo thứ hai. Các thị trường nhập khẩu đặt giới hạn dư lượng rất chặt cho gia vị. Nhà máy cần kiểm soát từ vùng trồng, lấy mẫu kiểm từng lô, và giữ hồ sơ truy xuất nguồn hạt.

Tạp chất lạ phải được loại bỏ. Đá, kim loại, sợi bao bì lẫn trong hạt là lỗi khiến cả lô bị trả. Máy tách đá, nam châm, máy dò kim loại là thiết bị cơ bản của dây chuyền gia vị.

Quế, hồi và một số gia vị khác theo vùng

Ngoài hồ tiêu, Việt Nam có các vùng gia vị nổi tiếng gắn với cây bản địa. Bảng dưới chỉ nêu những vùng được biết đến rộng rãi, không phải danh sách đầy đủ.

Gia vịVùng nổi tiếng (tỉnh hiện hành)Chế biến chính
QuếVùng Yên Bái cũ (nay thuộc Lào Cai); vùng Trà My của Quảng Nam cũ (nay thuộc Đà Nẵng); Quảng NgãiBóc vỏ, cắt thanh, cuộn ống, phơi sấy; chưng cất tinh dầu từ lá, cành
HồiLạng Sơn, Cao BằngPhơi sấy quả, phân loại theo độ nguyên cánh; chưng cất tinh dầu
ỚtNhiều tỉnh miền Trung và đồng bằng sông Cửu LongSấy khô, xay bột, làm tương ớt
Nghệ, gừng, sảRải rác nhiều tỉnhThái lát sấy, xay bột, chưng cất tinh dầu

Quế và hồi thường đi qua chuỗi thu gom nhiều tầng từ hộ trồng tới cơ sở sơ chế, rồi tới nhà máy hoặc doanh nghiệp xuất khẩu. Tinh dầu quế và hồi là sản phẩm chưng cất, cần thiết bị lò hơi và quy trình an toàn cháy nổ vì tinh dầu dễ bắt lửa.

Sau nhân điều: rang, tẩm vị và đóng gói bán lẻ

Phần lớn nhân điều Việt Nam rời nhà máy ở dạng nhân thô đã phân hạng, đóng thùng cho nhà rang và nhà sản xuất đồ ăn vặt ở nước nhập khẩu. Một phần nhỏ hơn được chế biến sâu ngay trong nước: rang khô, rang muối, tẩm mật ong, tẩm gia vị, rồi đóng hũ, đóng túi cho thị trường bán lẻ và quà tặng.

Chế biến sâu đòi hỏi thêm thiết bị rang có kiểm soát nhiệt, khu tẩm vị, đóng gói kín khí và đặc biệt là quản lý ôi dầu, vì nhân điều đã rang chứa dầu dễ oxy hoá khi gặp không khí và ánh sáng. Bao bì có lớp chắn khí, nạp khí trơ và hạn sử dụng ghi rõ là những điểm phân biệt sản phẩm làm kỹ.

Với xí nghiệp nhỏ, chế biến sâu là cách giữ thêm giá trị mà không cần dây chuyền cắt tách lớn: họ mua nhân đã phân hạng từ nhà máy rồi rang, đóng gói. Khi làm vậy, cơ sở phải đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm cho sản phẩm ăn liền, khác với điều kiện của nhà máy chỉ làm nhân thô.

Quy mô xí nghiệp và điều người mua công nghiệp hỏi

Trong cả ba ngành đều có hai tầng rõ rệt. Tầng sơ chế gồm hộ gia đình, cơ sở thu gom, xưởng bóc tách nhỏ, làm phần thô và bán cho tầng trên. Tầng nhà máy gồm doanh nghiệp có dây chuyền làm sạch, phân loại, tiệt trùng, phòng kiểm nghiệm và hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo Luật An toàn thực phẩm 2010. Hàng xuất khẩu cho nhà máy thực phẩm nước ngoài gần như luôn đi qua tầng nhà máy.

Người mua công nghiệp thường hỏi: chỉ tiêu vi sinh và cách tiệt trùng, kết quả kiểm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật theo lô, độ ẩm và tạp chất, hồ sơ truy xuất về vùng trồng, cách đóng gói chống ẩm và côn trùng. Với hạt điều, câu hỏi thêm là nguồn hạt thô trong nước hay nhập và tỷ lệ phân hạng của lô.

Nếu bạn là cơ sở nhỏ muốn bán cho nhà máy lớn, cách nhanh để được tin là giữ sổ ghi nguồn hạt, thời gian phơi sấy, độ ẩm đo được của từng lô, và không trộn hàng các nguồn với nhau.

Nếu bạn đang tìm xí nghiệp chế biến điều, tiêu hay gia vị đúng loại hàng, hoặc muốn đưa cơ sở của mình vào danh bạ, có thể để lại thông tin ở khung cuối trang để Xí Nghiệp liên hệ lại.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao nhân điều có hạt trắng, hạt vàng, hạt xém?

Màu nhân phụ thuộc giống, độ chín, cách xử lý nhiệt và sấy. Sấy quá nhiệt hoặc quá lâu làm nhân ngả vàng, xém. Nhân trắng nguyên hạt thường được xếp hạng cao hơn; nhân vàng, xém vẫn dùng tốt cho chế biến như làm bánh, rang muối, nhưng giá trị thương mại thấp hơn.

Tiêu đen và tiêu trắng khác nhau ở công đoạn nào?

Tiêu đen là hạt tiêu phơi khô nguyên vỏ. Tiêu trắng là hạt tiêu chín được ngâm cho mềm vỏ, chà bóc lớp vỏ ngoài, rửa sạch rồi phơi sấy. Tiêu trắng tốn công và tốn nước hơn, có mùi vị khác tiêu đen và thường được dùng cho món màu sáng.

Dung trọng hạt tiêu là gì?

Là khối lượng của một thể tích hạt tiêu nhất định. Hạt chắc, ít lép, ít tạp thì dung trọng cao. Đây là chỉ tiêu thương mại quen thuộc để phân hạng tiêu đen, cùng với độ ẩm và tỷ lệ tạp chất.

Cơ sở bóc điều nhỏ có cần lo về an toàn không?

Có. Dầu vỏ hạt điều gây bỏng da, nên công nhân cần găng chống hoá chất phù hợp, nơi rửa tay, và nên dùng máy cắt hạn chế tiếp xúc. Khu sấy cần phòng cháy vì vỏ và dầu dễ bắt lửa. Đây là những nguy cơ thật, không chỉ là thủ tục.

Vì sao Việt Nam nhập hạt điều thô?

Vì năng lực chế biến của các nhà máy trong nước lớn hơn sản lượng điều trồng được. Nhập thêm điều thô giúp nhà máy chạy đủ công suất quanh năm. Điều này cũng có nghĩa nhà máy phải quản lý chất lượng hạt từ nhiều nguồn khác nhau.

Gia vị bán lẻ trong nước có cần tiệt trùng như hàng xuất khẩu không?

Yêu cầu cụ thể tuỳ quy chuẩn áp dụng cho sản phẩm và cách sản phẩm được dùng. Dù không bắt buộc ở mọi trường hợp, giảm vi sinh là việc nên làm với gia vị dùng trực tiếp không qua nấu. Cơ sở nên kiểm quy định hiện hành và kiểm nghiệm sản phẩm định kỳ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Đăng ký xí nghiệp của bạn vào danh bạ, hoặc tìm xưởng gia công

Nếu bạn có xí nghiệp, xưởng sản xuất: cho biết ngành, tỉnh, sản phẩm chính và quy mô để Xí Nghiệp liên hệ lại, xác minh và đưa vào danh bạ theo ngành và tỉnh. Nếu bạn đang tìm xưởng gia công: cho biết sản phẩm, số lượng ước chừng và vùng mong muốn để được giới thiệu xí nghiệp phù hợp.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138