Ô nhiễm làng nghề sinh ra từ một nghịch lý: xưởng sản xuất nằm ngay trong nhà ở, nên mọi thứ thải ra, từ bụi gỗ, hơi sơn, khói lò đến nước thải nhuộm, đều đi thẳng vào không khí, ao hồ và cống chung của khu dân cư. Mỗi nghề có một kiểu thải riêng và một cách xử lý riêng, nhưng điểm chung là xử lý trong từng hộ nhỏ gần như không làm được tới nơi tới chốn.
Vì vậy hướng đi được nhắc nhiều là tách sản xuất khỏi nơi ở, đưa vào cụm sản xuất có hạ tầng xử lý chung. Bài này giải thích nguồn thải đặc trưng của các nghề gỗ, gốm, sơn mài, dệt nhuộm, vì sao xử lý tại chỗ khó, và điều thật sự thay đổi trong sản xuất khi một làng dời xưởng ra khỏi khu dân cư. Bài không bàn thủ tục thuê đất hay hạ tầng cụm; trọng tâm là chuyện sản xuất và môi trường.
Nguồn thải đặc trưng theo từng nghề
Mỗi nghề có một hai nguồn thải chính. Biết đúng nguồn thì mới chọn đúng biện pháp; cùng một chiếc quạt hút không giải quyết được mọi chuyện.
| Nghề | Nguồn thải chính | Ảnh hưởng thường gặp | Biện pháp ở mức xưởng |
|---|---|---|---|
| Mộc, chạm khắc gỗ | Bụi gỗ mịn, tiếng ồn máy, mùn cưa | Bụi bám nhà, bệnh hô hấp, nguy cơ cháy | Hút bụi tại máy, túi lọc, thu gom mùn cưa riêng |
| Phun sơn đồ gỗ, sơn mài công nghiệp | Hơi dung môi, bụi sơn | Mùi, đau đầu, nguy cơ cháy nổ | Buồng phun có màng nước hoặc lọc, kho dung môi riêng |
| Gốm | Khói, bụi lò, bụi đất khô | Khói ảnh hưởng khu dân cư, bụi silic | Chuyển sang lò ga, lò điện; làm ướt khi xử lý đất |
| Dệt nhuộm, ươm tơ | Nước thải màu, hoá chất, chất hữu cơ | Ao hồ, kênh mương đổi màu, mùi | Bể lắng, xử lý trước khi xả, giảm hoá chất |
| Mây tre, cói | Hoá chất chống mốc, khói từ xông nguyên liệu | Mùi, ảnh hưởng người làm trực tiếp | Chọn chất được phép, làm ở nơi thông thoáng, tách khỏi nhà ở |
Bảng chỉ nêu những gì dễ thấy. Các nghề khác như tái chế kim loại, tái chế nhựa, chế biến thực phẩm có những vấn đề môi trường riêng, nhiều khi còn nặng hơn, và được bàn ở các danh mục khác.
Vì sao xử lý trong từng hộ rất khó
Một hộ làm mộc có thể lắp máy hút bụi cho máy bào. Nhưng khi cả xóm có hàng chục hộ cùng bào, cưa, chà nhám, lượng bụi cộng lại vượt xa khả năng của từng chiếc máy hút, và mùn cưa thu được cũng cần chỗ để. Một hộ nhuộm có thể đào bể lắng, nhưng bể đó không xử lý được thuốc nhuộm hoà tan; nước sau lắng vẫn đổ ra cùng một con kênh với các hộ khác.
Thứ hai là không gian. Xưởng trong nhà ở thường chật, không có chỗ đặt hệ thống lọc, không có khoảng cách an toàn giữa lò nung, kho dung môi và chỗ ngủ. Muốn lắp hệ thống xử lý đúng nghĩa thì phải hy sinh một phần diện tích sản xuất, điều mà hộ nhỏ khó chấp nhận.
Thứ ba là chi phí vận hành. Hệ thống xử lý nước thải hay khí thải cần điện, hoá chất, người vận hành và bảo trì. Một hệ thống chung cho nhiều xưởng chia được chi phí; một hệ thống riêng cho từng hộ thường bị tắt đi khi không có ai kiểm.
Cuối cùng là thói quen và nhận thức. Người làm nghề lâu năm quen với bụi và mùi, có khi không coi đó là vấn đề cho tới khi hàng xóm không làm nghề phản ánh, hoặc khi có người trong nhà mắc bệnh hô hấp.
Ảnh hưởng tới chính người làm nghề
Hô hấp. Bụi gỗ mịn, bụi đất chứa silic, bụi sơn đi sâu vào phổi. Người làm nhiều năm không có bảo hộ phù hợp có nguy cơ mắc bệnh phổi nghề nghiệp. Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 đặt nguyên tắc kiểm soát yếu tố có hại, áp dụng cả với xưởng nhỏ có thuê lao động.
Dung môi và hoá chất. Hơi dung môi trong sơn gây đau đầu, chóng mặt, ảnh hưởng lâu dài nếu tiếp xúc thường xuyên trong phòng kín. Hoá chất nhuộm, chống mốc có thể gây kích ứng da và mắt.
Tiếng ồn. Máy cưa, máy bào, máy CNC chạy nhiều giờ liền gây giảm thính lực dần dần, thường chỉ nhận ra khi đã muộn. Nút tai hoặc chụp tai rẻ hơn nhiều so với cái giá phải trả về sau.
Cháy nổ. Xưởng gỗ và xưởng sơn trong nhà ở là tổ hợp nguy hiểm: mùn cưa, dung môi, dây điện tạm và người ngủ ngay trên tầng. Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024 đặt yêu cầu cho cơ sở sản xuất; tách xưởng khỏi nhà ở là cách giảm nguy cơ tận gốc.
Trẻ em và người già trong nhà. Đây là nhóm chịu ảnh hưởng mà không làm nghề, vì sống ngay cạnh nguồn thải cả ngày.
Cụm sản xuất làng nghề: điều gì thật sự thay đổi
Khi xưởng chuyển ra cụm sản xuất tập trung, thay đổi đầu tiên là sản xuất được tách khỏi chỗ ngủ. Chỉ riêng việc này đã giảm phần lớn rủi ro về cháy nổ và phơi nhiễm cho người nhà. Thay đổi thứ hai là có chỗ cho máy móc và hệ thống xử lý: nhà xưởng rộng hơn cho phép đặt hút bụi trung tâm, buồng sơn, kho nguyên liệu riêng.
Thay đổi thứ ba nằm ở hạ tầng xử lý chung, nếu cụm thật sự có và vận hành được. Nước thải của các xưởng nhuộm có thể đưa về một trạm xử lý, mùn cưa được gom bán làm chất đốt hay nguyên liệu viên nén, rác sản xuất được phân loại. Luật Bảo vệ môi trường 2020 có các quy định riêng về bảo vệ môi trường làng nghề và cụm sản xuất; chi tiết thực hiện bạn cần kiểm văn bản hướng dẫn hiện hành.
Thay đổi thứ tư thường bị bỏ qua: xưởng ngoài cụm phải vận hành như một xí nghiệp thật, với giờ làm, người trông coi, bảo vệ, đi lại. Nhiều hộ quen vừa làm vừa trông nhà, nấu cơm, đón con; ra cụm là phải tổ chức lại cả nếp sinh hoạt. Đây là lý do có những cụm xây xong mà hộ vẫn làm trong nhà, hoặc thuê chỗ ở cụm nhưng chỉ dùng làm kho.
Vì sao có làng dời xưởng thành công và có làng không
Từ những gì quan sát được ở nhiều nơi, các yếu tố sau thường tạo ra khác biệt:
- Cụm sản xuất ở gần làng, đi lại thuận tiện, không làm đứt mối quan hệ giữa xưởng và các hộ vệ tinh.
- Hạ tầng xử lý chung hoạt động thật ngay từ đầu, không chỉ có trên bản vẽ.
- Chi phí thuê và vận hành ở mức mà xưởng vừa và nhỏ chịu được, có lộ trình rõ ràng.
- Có những xưởng đi đầu làm ăn tốt hơn sau khi chuyển, tạo hiệu ứng cho các hộ khác.
- Khách hàng lớn yêu cầu đánh giá môi trường, an toàn, tạo động lực thương mại để chuyển.
- Việc kiểm tra, xử lý vi phạm ô nhiễm trong khu dân cư được làm thống nhất, tránh tình trạng hộ chuyển đi thì thiệt, hộ ở lại thì không sao.
Với người tìm nguồn hàng, xưởng đã ra cụm sản xuất và có hệ thống xử lý vận hành là một điểm cộng thật, vì khách quốc tế ngày càng hỏi về điều kiện môi trường và an toàn của nơi sản xuất, không chỉ về sản phẩm.
Ví dụ giả định: một xóm mộc chuyển ra cụm sản xuất
Một xóm có khoảng hai mươi hộ làm mộc và phun sơn đồ gỗ trong nhà. Hàng xóm không làm nghề phản ánh bụi và mùi sơn; một xưởng từng bị chập điện cháy kho mùn cưa. Khi địa phương có cụm sản xuất cách làng không xa, năm hộ làm ăn khá nhất chuyển ra trước.
Năm đầu, các hộ này tốn thêm chi phí đi lại, thuê chỗ, lắp hút bụi trung tâm và buồng sơn. Đổi lại, xưởng rộng hơn, máy được xếp theo dòng chảy công việc thay vì chen nhau trong nhà, kho gỗ khô ráo hơn nên hàng ít nứt. Một hộ nhận được đơn của khách đòi đánh giá nơi sản xuất, điều mà trước đây không thể vì xưởng nằm trong nhà ở.
Các hộ còn lại theo dõi một thời gian rồi chuyển dần. Một số hộ nhỏ chọn không ra cụm mà chuyển hẳn sang làm khâu ít ô nhiễm như lắp ráp, chạm tay, giao khâu phun sơn cho xưởng chuyên sơn trong cụm. Kết quả là xóm vẫn sống bằng nghề mộc, nhưng bụi và mùi sơn trong khu dân cư giảm hẳn. Ví dụ này không phải câu chuyện có thật của một làng cụ thể, mà gom lại những gì thường thấy ở các nơi dời xưởng thành công.
Một xưởng nhỏ chưa dời đi được thì làm gì trước
Không phải hộ nào cũng chuyển ra cụm ngay được. Trong lúc chờ, có những việc làm được ngay với chi phí vừa phải:
- Tách khu sản xuất khỏi chỗ ngủ, chỗ nấu ăn bằng vách ngăn kín, ít nhất là tách tầng.
- Lắp hút bụi tại máy cho các máy sinh bụi nhiều nhất, thu gom mùn cưa vào bao kín mỗi ngày.
- Chuyển khâu phun sơn vào buồng có hút và lọc, hoặc thuê xưởng chuyên sơn làm khâu này.
- Cất dung môi, sơn, hoá chất ở kho riêng, xa nguồn nhiệt, có bình chữa cháy phù hợp.
- Với nghề nhuộm, làm bể lắng và giảm lượng hoá chất bằng cách pha đúng liều, tái sử dụng nước khi được.
- Trang bị khẩu trang lọc bụi phù hợp, nút tai chống ồn cho người làm, và dặn người nhà không ở trong khu sản xuất khi máy chạy.
Những việc này không thay được giải pháp tập trung, nhưng giảm đáng kể rủi ro cho chính gia đình mình, và là bước chuẩn bị tốt nếu sau này xưởng chuyển ra cụm.
Câu hỏi thường gặp
Làng nghề có bắt buộc phải dời xưởng ra cụm công nghiệp không?
Không có một quy định chung bắt mọi làng nghề phải dời. Yêu cầu cụ thể phụ thuộc vào loại hình sản xuất, mức độ ô nhiễm và quy hoạch của từng địa phương. Cơ sở thuộc loại gây ô nhiễm nặng trong khu dân cư thường chịu yêu cầu chặt hơn. Bạn nên kiểm quy định hiện hành và hỏi chính quyền nơi đặt xưởng.
Bụi gỗ có hại cho sức khoẻ đến mức nào?
Bụi gỗ mịn khi hít lâu ngày gây kích ứng đường hô hấp, viêm mũi, hen và các bệnh phổi nghề nghiệp. Bụi từ một số loại gỗ cứng còn được các tổ chức y tế quốc tế xếp vào nhóm có nguy cơ gây ung thư. Hút bụi tại nguồn và khẩu trang lọc bụi phù hợp là biện pháp tối thiểu.
Mùn cưa ở xưởng mộc nên xử lý thế nào?
Mùn cưa và dăm bào nên được thu gom vào bao kín hằng ngày, để xa nguồn lửa, rồi bán hoặc chuyển cho cơ sở dùng làm chất đốt, viên nén, giá thể, đệm lót chuồng. Không nên đốt ngoài trời trong khu dân cư vì gây khói và nguy cơ cháy lan.
Vì sao chuyển sang lò ga giúp làng gốm bớt ô nhiễm?
Lò củi, lò than cháy không hoàn toàn nên sinh nhiều khói và bụi, lại khó kiểm soát nhiệt. Lò ga cháy sạch hơn nhiều và kiểm soát nhiệt tốt hơn, nên vừa giảm khói cho khu dân cư vừa giảm hàng hỏng. Tuy vậy lò ga đòi hỏi an toàn khí ga nghiêm ngặt.
Nước thải nhuộm vì sao khó xử lý?
Thuốc nhuộm và chất trợ nhuộm phần lớn hoà tan trong nước, nên bể lắng đơn giản không loại bỏ được màu và hoá chất. Xử lý tới mức đạt yêu cầu thường cần nhiều bước hoá lý và sinh học, chi phí cao, nên hợp với trạm xử lý chung cho nhiều xưởng hơn là từng hộ.
Xưởng đã ra cụm sản xuất có còn phải tự xử lý chất thải không?
Tuỳ hạ tầng của cụm. Thường xưởng vẫn phải xử lý sơ bộ tại chỗ như hút bụi, lắng cặn, phân loại rác, trước khi đưa nước thải về trạm chung. Quy định cụ thể nằm trong quy chế của cụm và giấy phép môi trường của từng cơ sở.